Nam Trì – làng cổ

YiA4fXNJSp_5ZW_gOiXCFA
Nam Trì (tên chữ: 南池) nghĩa là ao phía nam, ao Vua,… Theo thần tích và tư liệu lịch sử thì từ thời Hùng Vương, An Dương vương đến thời nước Nam Việt, trang thuộc tổng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, bộ Giao Chỉ (một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời Hùng Vương). Thời Tây Hán thuộc huyện Chu Diên quận Giao Chỉ. Thời Lương thuộc quận Võ Bình đến đời Tùy thì bỏ và đến thời Đường thuộc châu Diên. Thời loạn 12 xứ quân, thuộc xứ Đằng Châu. Thời Lý thuộc châu Khoái, thời Trần thuộc Khoái lộ đến thời Minh thuộc Khoái châu. Thời Lê Thái tổ thuộc Nam đạo, thời Lê Thánh Tông thuộc Sơn Nam Thừa tuyên. Thời Mạc thuộc Hải Dương, thời Lê trung hưng thuộc phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam rồi lộ Sơn Nam thượng; thời nhà Nguyễn, nhà Tây Sơn thuộc trấn Sơn Nam thượng. Năm 1831, thời Minh Mạng trang Nam Trì gọi là xã Nam Trì thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên. Thời Pháp thuộc cho đến nay, trang Nam Trì gọi là thôn Nam Trì thuộc xã Đặng Lễ (có thời kỳ gọi là xã Phan Chu Trinh), huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Năm 1970 tỉnh Hưng Yên nhập với tỉnh Hải Dương nên thuộc tỉnh Hải Hưng, năm 1997 lại tách ra nên thuộc tỉnh Hưng Yên.
Làng Nam Trì ngày nay vốn là trang Nam Trì, xã Nam Trì xưa, thuộc tổng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam. Đất Nam Trì xưa vốn sơn thủy hữu tình, địa thế quan kỳ, có thế “Phượng Hoàng Hàm thư, long đỗ, qui vĩ” (chim Phượng hoàng ngậm thư, rốn rồng, đuôi rùa). Đất Nam Trì còn nằm ở nơi tam giang giao hội, thuỷ tụ khê lưu, chảy vòng chín khúc (nơi ngã ba sông, chín nhánh sông uốn khúc chảy vòng, nước tụ). Địa lý, phong thủy đất Nam Trì được mô tả như nội dung bức đại tự trong đền Nam Trì cổ: “Thiên Nam Trì thuỷ sơn hà đới – Địa Bảo Tàng hương bích Ngọc Khê” – 天南池水山河帶-地寶藏鄉碧玉溪 (Thiên nhiên Nam Trì sơn thủy sông nước bao quanh; Đất đai hai khu Bảo Tàng, Ngọc Khê như bức tranh quê).
Xưa kia trang Nam Trì vốn là một vùng ao hồ, sông nước, những gò những đống lô nhô, um tùm lau sậy, ngập cỏ ba cạnh. Cánh xứ Voi Phục phía Nam làng Nam Trì còn có cả một rừng lim; giao thương, đi lại chủ yếu bằng thuyền bè. Hai con sông Nguyệt Đức ở phía Tây Bắc, Kim Ngưu ở phía Đông Nam vốn sâu, rộng, có nhiều nhánh con, giao nhau nên gọi là tam giang, cửu khúc. Một nhánh con của sông Nguyệt Đức ở phía Tây chảy xuôi về phía Nam làng Nam Trì và ôm lấy làng Giải nên tên chữ làng này là Ngọc Khê (khe nước trong); sau đổi thành Đới Khê (đai khe nước). Dòng nước này chảy tiếp về làng Ngói (An Trạch) rồi vòng ra đầu làng Vân (Thọ Hội) nhập vào sông Kim Ngưu.
Tương truyền thời Lê sơ, khoảng từ thời Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Lê Uy Mục, tức là khoảng những năm (1442-1509), Thánh Địa lý Tả Ao – Vũ Đức Huyền chu du vùng huyện Thiên Thi và tỉnh Hưng Yên. Tại các nơi này, Ông đã cắm đất xây đình chùa, đặt mồ mả cho nhiều họ tộc. Câu ngạn ngữ “nhất Thi nhì Hới” lưu truyền trong dân gian nói về việc Ông đã cắm đất xây đình chùa, đặt mồ mả giúp cho làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) phát về đường khoa cử và làng Hới (tức Hải Triều thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên) phát về đường buôn bán.
Thời gian ngụ tại Nam Trì, Ông đã giúp dân lập làng mới (tức là chuyển làng Nam Trì từ cánh xứ Đa Quán – phía Tây Bắc về địa điểm ngày nay). Làng mới nằm ở vị trí ngã ba sông, giữa sông Kim Ngưu, Nguyệt Đức và nhánh con của sông Nguyệt Đức. Nhánh con này gọi là khê (tức khe nước nhỏ), như câu đối của Ông trong đền Nam Trì tả về địa lý, phong thuỷ của làng Nam Trì mới: “Tây lộ khê lưu kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền” nghĩa là phía Tây của làng có đường và dòng nước chảy, phía sau làng là hướng Tây Bắc (hướng Tây Bắc hành Kim) – phía Đông làng có sông nước tụ, phía trước làng hướng Đông Nam (hướng Đông Nam hành Mộc).
Cánh Bến, cầu Bến ở phía Đông Nam của làng Nam Trì, xưa kia vốn là bến nước, bến thuyền đông đúc trên sông Kim Ngưu. Đền, chùa Nam Trì và mộ hai vị Thần: Bảo Công, Lang Công (Tể tướng Lữ Gia, Đại tướng Nguyễn Danh Lang), cũ cũng từng ở đây. Xưa kia, nơi đây vốn có thế đất quí nên Đức Cao Vương (Cao Biền) đã chọn nơi để dựng chùa làng và đền thờ 2 vị “Thượng đẳng Phúc thần” Bảo Công, Lang Công. 7 thế kỷ sau, đất nơi đây kiệt mạch, làng mới được hình thành nên Thánh Địa lý Tả Ao đã chọn hai gò đất ở phía Nam của làng để dựng đền, chùa mới.
Chùa Nam Trì tên chữ Phổ Thung (Phổ Xuân) tọa lạc ở phía Tây Nam của làng, tại gò cao thế đất “long thủ” (đầu rồng). Hai mắt rồng là giếng chùa và ao sau chùa. Tương truyền khi khơi giếng chùa (cũng là giếng làng), nước phun lên ngập cả một vùng. Dân làng sợ ngập mất làng nên lấy cả phiến đã to như cái chiếu và hàng chục cối đá ném xuống để lấp dòng nước phun lên. Hiện nay, ao sau chùa không còn nên Thánh Địa lý Tả Ao hiển linh nói rằng đất chùa có thế độc long, độc nhãn (rồng một mắt).
Cánh xứ Mã Phát ở phía Tây Nam của làng Nam Trì, là cánh ruộng trước cửa chùa là nơi đền cũ, nơi phát tích, nơi đồn trú, nơi tế lễ các bậc đế vương, tướng công. Vì gần đây, Mã Phát từng là nghĩa địa nên gọi là Mả Phát. Đình Ba Xã (nơi tế Thần), hành cung Ngọc Khê của Đức Cao Vương và hai vị Phạm phu nhân cũng ở nơi đây xưa kia.
Nam Trì có một địa danh khá thần bí, huyền ảo. Đó là cánh xứ Voi Phục ở phía Nam làng, giáp thôn Đới Khê. Xưa kia, địa danh Voi Phục này là nơi um tùm cỏ ba cạnh xen lẫn rừng lim. Đặc biệt và, thế đất gò đống như đàn voi nằm, lại kề cánh xứ Mã Phát, hành cung Ngọc Khê, đình Ba Xã. Voi Phục là bãi giữ voi của quân tướng triều đình xưa kia. Có một truyền thuyết liên quan đến họ Đinh ở Nam Trì với nguồn gốc địa danh cánh xứ Voi Phục. Con cháu họ Đinh tại Nam Trì vẫn cho rằng sở dĩ có cái địa danh Voi Phục là vì xưa kia đây là bãi giữ voi của triều đình khi đưa linh cữu Tiến sĩ Đinh Tú (hoặc Quận công Đinh Văn Tả) về Nam Trì an táng, tế lễ.
Tương truyền, thời Thánh Địa lý Tả Ao ngụ tại Nam Trì, đã cắm đất đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò đất cánh xứ vườn Bông được thế “Tam Thai” để dòng họ Đinh phát về võ tướng. Quả nhiên như vậy. Mấy chục năm sau, năm Nguyên Hòa thời vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải – 1544) hay thời vua Lê Trang Tông (1533-1548), con cháu họ Đinh đã phát danh khoa bảng. Đó là ông Đinh Tú đỗ Tiến sĩ được ghi bia đá ở Văn Miếu Quốc Tử giám – Hà Nội và Văn miếu Xích Đằng, Hưng Yên. Vinh qui bái tổ xong, ông Đinh Tú được triều đình (Lê hoặc Mạc) bổ nhiệm làm quan ở Hải Dương, phong chức “Hiến sát xứ”, tước “Phù Nham bá”. Sau, hậu duệ của ông đều là những danh tướng nổi tiếng thời Lê – Trịnh như Quận công Đinh Văn Tả. Quận công Đinh Văn Tả là cháu gọi ông Đinh Tú là cụ sinh ra ở làng Hàm Giang, nay thuộc phường Quang Trung, TP Hải Dương. Quận công Đinh Văn Tả được phong Thần từ lúc sống (Sinh phong), khi mất được vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn tới viếng và ban thụy hiệu là Vũ Dũng, sai Bộ Lễ về nguyên quán(!) hộ tang (nguyên quán là Nam Trì, quê quán là Hàm Giang), tổ chức lễ tang với nghi thức của bậc đế vương. Công trạng lớn lao của ông thể hiện việc chúa Trịnh Căn viếng đôi câu đối: “Tiết việt quyền long triều túc tướng – Phiên toàn trách trọng quốc nguyên huân”.
Nam Trì có một ngôi đền cổ (nay gọi là đình). Có từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Thời đó, nhà Tây Hán chiếm Nam Việt, trang Nam Trì có anh em kết nghĩa là Tướng Nguyễn Danh Lang (sinh tại Nam Trì), Tể tướng Lữ Gia (ngụ tại Nam Trì) quyết tâm chống nhà Hán đến cùng, khi hóa dân làng lập đền, thờ phụng. Thế kỷ thứ 9, thời Đường Ý Tông, Cao vương Thiên tử – Thánh địa lý Cao Biền sang Giao Châu tiễu trừ giặc Nam Chiếu, qua Nam Trì đóng đồn tại đền thờ hai vị Thần huynh đệ, dựng hành cung, kết nghĩa anh em với hai vị Thần, cưới hai phu nhân sinh đôi ở Ngọc Khê, Nam Trì là Phạm A Lữ, Phạm Lự nương, giúp dân sửa miếu, lập đền nên khi hóa dân làng đã thờ cùng hai vị Tướng anh em. Xưa trong đền có bức đại tự nói về việc ba vị Thần kết nghĩa đào nguyên. Lễ hội hàng năm vào tháng 3, gọi là “Lễ hội Bảo, Lang, Biền” hay “Lễ hội Nam Trì” có lễ rước ba vị Thần về gò đình Ba Xã để tế lễ và tổ chức các trò chơi dân gian.
Các triều đại Việt Nam, Trung Hoa đều sắc phong ba vị là “Thượng đẳng Phúc thần Dực bảo Trung hưng”, Công chúa Lâu nương (phu nhân của Tể tướng Lữ Gia, dòng dõi Hùng vương) là “Trung đẳng thần Dực bảo Trung hưng”, hai vị Phạm phu nhân được phong nam nữ đế Thần đồng thờ phụng. Ngày 24/11 Canh Thìn (1880) niên hiệu Tự Đức thứ 33, nhà Nguyễn sắc phong thêm ba vị Thượng đẳng Phúc thần làm “Thành Hoàng” ba làng Nam Trì, Đới Khê và Bảo Tàng.
Cuối thế kỷ 15, Thánh địa lý Tả Ao về Nam Trì lập lại hương thôn, chùa miếu nên khi Ngài hoá dân làng tôn làm vị “Phúc Thần” thứ tư và thờ cùng ba vị “Thượng đẳng Phúc thần” trong hậu cung. Năm 1953 bom quân đội Pháp rơi giữa sân đình, làm đình bị siêu. Sau bị đổ nát, tàn phá không còn dấu tích. Năm Bính Tuất (2006), hội đủ nhân duyên, Thiên thời, Địa lợi, được sự hiển linh, chỉ giáo của Thánh địa lý Tả Ao; một số hương tử, khách thập phương tâm đức và nhân dân Nam Trì đã quyết tâm dựng lại ngôi đền tại gò Vườn Soi. Gò Vườn Soi ở phía Đông Nam làng, gần cánh Bến, cạnh nơi xưa kia Cao vương Thiên tử đã từng chọn đất dựng đền thờ hai vị Thần Lang Công, Bảo Công. Gò Vườn Soi có thế đất “thủy nhiễu chu viên”, song long, tứ nhãn, nhị nhãn ẩn, nhị nhãn hiện” (nước chảy quanh vườn, hai rồng bốn mắt, mắt ẩn, mắt hiện) nên Thánh địa lý Tả Ao hiển linh, chỉ giáo nơi lập dựng đền mới. Bốn tháng sau khởi công, ngày 30/6 âm lịch năm Đinh Hợi (2007), khánh thành ngôi đền mới.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s