Sám tạ Tổ tiên Từ đường khoa

Hương phụng hiến cúng Dàng tiên Tổ, cập môn tông Tử hiếu chí thành, nghênh Tổ đức, nguyện kỳ tiên Tổ giáng đường tiền, bảo hộ Tử tôn đa cát khánh, tứ thời bát tiết hưởng Thiên duyên.

      Ôm. Ba tê tra. Sva ha. (3 lần)

(Án bắc đế tra sa ha)

          Thiết dĩ: Từ đường nghiêm khiết, tịnh cúng phu trần, lự bài biện tri Phật nghiêm, khủng vãng lai chi cấu uế, bằng tư pháp thủy, quán sái Tổ đường (Gia đường, Từ đường). Giáo hữu tịnh uế chân ngôn cẩn đường trì tụng.

Nhất bát thanh lương thủy,

Quán xái tận tiền đường,

Cung thỉnh Tổ tiên giáng

Tất nhiên thường thanh tịnh.

Ôm. Tra ma la Thi tha rla đi stra. Sva ha. (3 lần)

                                     (Án, tra ma la thiện thần la địa tra sa ha)

Nam mô Li cấu địa Bồ Tát Ma ha tát. (3 lần)

          Cung văn: Ẩm phương tuyền tụ tri tỉnh xuất, nhu hương đạo yến thức diền sinh nhân cư thiên địa chi gian, chiếu xuất vu tình ư vạn địa.

          Cung duy: Tổ tiên nhất thiết liệt vị đẳng chư tông môn ân cần thế nghiệp, gia thanh trung hậu, di quyết tôn mưu yến dực, trường lưu ư phong kỷ, thích kỷ lạc thổ hạch cao, cửu luyến ư trà hình thiết tự, mộc bản đồng căn, kha diệp trung khan hướng mậu, cảm dụng lễ nghi tận vật, phi phong thức ngụ chí thành, dục cầu bảo an cơ mưu duệ. Tu bằng cảm cách ư Tiên linh, tư nhân… … thiên (xuân, hạ, thu, đông, kỵ nhật, lễ, Tết…), đồng tộc (đồng gia) phụng nghênh cung trần phỉ lễ, mặc ngụ đan thành, phụng vong Tổ tiên giám cách. Giáo hữu nhiên hương cẩn đương trì tụng.

Nhất chuyên bảo hương cung kính lễ,

Nguyện kỳ Tổ đức tác chứng minh,

Nhật nguyệt Tử tôn đa cát khánh

Gia môn thịnh vượng phúc hưng long.

            Nam mô Hương cúng dàng Tổ tiên Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

          Thiết dĩ: Hạnh phùng tiết nhật, gia tộc yếu nghênh, xuyên kỳ Tổ đức, giáng uy nghi. Giáo hữu triệu thỉnh chân ngôn, cẩn đương trì tụng.

Triệu thỉnh Chân ngôn:

Nam mô Bu pu Tê ri – Ka ri Ta ri – Ta tha ga ta ja. (3 lần)

(Nam mô Bộ bộ đế lỵ già ly đá lỵ đát đá tha nga đá da)

Dĩ thử linh thanh thân triệu thỉnh,

Ngưỡng kỳ Tổ đức tất văn chi,

Kim bằng Tam bảo lực gia trì,

Thử nhật kim thời lai giáng phó.

Ôm. Tri lin. Sva ha. (3 lần)

                                                       (Án chi linh sa ha)

Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn tuyên dương dĩ kính, Tử tôn chí thành kiền thành phụng thỉnh. Nhang hoa thỉnh.

          Nhất tâm phụng thỉnh: Thiên chi hữu nhật nguyệt. Quang chiếu thập phương, nhân chi hữu Tổ tông, lưu thùy vạn thế, Từ đường hương hỏa. Cầu Linh sảng dĩ lai lâm, hương khí đan thành, bằng Tổ tông nhi chiếu giám, phàm tâm cẩn bạch tuệ nhãn giao quan, ngôn niệm thiết vi nhân Tử, cảm hạ tông thân, ngưỡng càn khôn phụ tải chi ân, cảm Tông Tổ tài bồi chi ấm, dục cầu bảo an miếu duệ, tu bằng cảm cách Tiên linh.

Cung duy: Vật bản hồ thiền, nhân bản hồ Tổ, thế bất lăng vong, tộc ư tư tụ, dịch thế chi tông, tông điều tuy viễn, dĩ tự trung tư, thiên tu chi công đức do tồn, bất thăng vĩnh mộ sơ thủy đồng căn cộng bản, nhi Tổ nhi tông, hậu lai biệt phái phân chi, hữu môn hữu hộ.

Cung thỉnh: Gia tiên Cửu huyền Thất tổ, cao cao Tổ khảo, cao cao Tổ tỷ nhất thiết liệt vị tôn linh, phục hồi từ sở tả vị hữu chiêu, ức niên chi sảng, thúc bằng, ai hồ kiến, khái hồ văn, dịch thế chi tinh thần, dĩ tụ cung trần phỉ lễ mạch ngũ đan thành.

Duy nguyện: Tổ tiên giám cách, nguyện thân phục chỉ, hiếu phụng xuân thu, giáng phó Tổ đường (Gia đường) cúng dàng, chứng minh công đức. Nhang hoa thỉnh.

          Nhất tâm bái thỉnh: Công cao quảng đại, đức thụ tài bồi Tử tôn khang cát dĩ hưng long, đức thuộc Tổ tiên nhi hữu chuẩn.

Cung duy: Gia tiên, tiên linh bản phái, hương kỳ phần đại anh hiền, hoặc văn thơ lễ, hoặc lược điền viên, phong thanh thu lập, văn vong lưu truyền, dư thanh đồng cảm, thức lễ mạc khiên. Gia tiên khí số chung anh, tài năng tế mỹ, nhất thiết liệt vị chư Tổ tông.

Duy nguyện: Tổ tông bất thác bảo hộ Tử tôn giáng phó Tổ đường (Gia đường) thụ tư cúng Dàng, chứng minh công đức. Nhang hoa thỉnh.

          Nhất tâm bái thỉnh: Tiên Tổ liệt vị, căn thâm mạt mậu, Đức hậu lưu quang, nghi chỉ thiệu bồi, tích thế chi âm, công thương tại, nhưng tồn bằng tịch tục cổn dĩ dư thanh do trường xuân tam chi thủ bảo, hữu tâm cảm cách Tổ đức lưu phương.

Cung duy: Tổ tiên hệ phái, chi ngành đẳng đẳng Tông môn nhất thiết liệt vị.

Duy nguyện: Đức hậu trường lưu, thiên vạn cổ, giáng phó Từ đường (Gia đường) thụ tư cúng Dàng, chứng minh công đức. Nhang hoa thỉnh.

Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn tuyên dương dĩ kính. Giáo hữu an tọa chân ngôn cẩn đương trì tụng.

Tổ đức lưu quang lai giáng phó,

Khoát nhiên tâm nguyện thính gia đà,

Tùy phương ứng hiện biến quang minh,

Nguyện giáng Từ đường (Gia đường) an vị tọa.

Nam mô Vân lai tập tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Nam mô An vị tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Phục vọng: Tổ tiên, nhất thiết liệt vị chân linh, đẳng đẳng sảng linh, trùng trùng quyến thuộc quang giáng Tổ đường (Gia đường) thụ kỳ lễ giáo, hữu biến thực chân ngôn cẩn đương trì tụng, hóa vô vi hữu, biến thiểu thành đa.

BIẾN THỰC CHÂN NGÔN :

Nam mô Sa rva Ta tha ga ta A va lô ki tê. Ôm Sam ba ra Sam ba ra. Hum. (3 lần)

(Nammô tát phạ đát tha nga, đá phạ rô chỉ đế, Án, tam bạt la, tam bạt la hồng).

CAM LỘ THỦY CHÂN NGÔN :

      Nam mô Tô rô Ba ja – Ta tha ga ta ja Ta đi ja tha:

           Ôm. Tô rô Tô rô – Ba ja Tô rô – Ba ja Tô rô. Sva ha. (3 lần)

(Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha,

Án, Tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha)

PHẢ CÚNG DÀNG CHÂN NGÔN:

Ôm. Ga ga nga Sam ba va Va jra. Hôh. (3 lần)

(Án, nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhất la hộc)

Nam mô Phả cúng Dàng Bồ tát Ma ha tát (3 lần)

Thượng lai lễ thỉnh gia tiên dĩ tất sở hữu sớ văn cẩn đương tuyên đọc (tuyên sớ, không có sớ đọc đường Phục vọng). Thượng lai văn sớ tuyên đọc dĩ chu, sớ đối Tổ từ dụng bằng hóa hỏa (hóa sớ).

 Đường Phục vọng (thay sớ):

Cúi nghĩ rằng:

Vầng nhật nguyệt, mười phương rạng rỡ,

Đức Tổ tông muôn thuở sáng ngời,

Ngưỡng trông phúc ấm nối đời,

“Tế thần thần lại” ngự nơi Từ đường,

Để con cháu lửa hương phụng sự,

Nghìn năm sau, xuân Tự Thu Thường,

Băn khoăn tự chỉ phế hoang,

Hôm nay con cháu sửa sang kính mời,

Kính thiết lễ chiêu nghênh Tiên Tổ,

(Đến nay đồng tộc sửa sang khánh thành.

Kính thiết lễ : Chiêu nghênh, yên vị)

Nước Thần thông tẩy uế khai quang,

Mừng ngày (xuân, hạ, thu, đông) tiết vừa sang,

Gần xa tụ hội họ hàng đông vui.

Ơn trời đất cao dày che chở,

Ơn tổ tiên phù hộ độ trì,

Ơn nhờ đức Phật từ bi,

Ơn nhờ Thánh chúng thần kỳ chứng soi,

Cây vững, cội vững, chồi xanh lá.

Nước trong nguồn bể cả sông sâu.

Chữ Trung chữ Hiếu làm đầu,

Ai không tâm niệm vì đâu có mình,

Nhờ Tiên Tổ anh linh phù hộ

Dìu cháu con tiến bộ trưởng thành,

Trẻ già trai gái yên lành

Học hành thịnh vượng gia đình thêm xuân,

Buổi sơ khai một ngôi Thủy tổ,

Đời nối đời chia nhánh chia chi,

Cây cao bóng cả xum xê,

Lá rơi về cội người về Tổ Tông,

Nghìn thu sau nối dòng mãi mãi,

Ai trồng cây ta hái quả ngon,

Vậy nên dạy cháu khuyên con,

Vun bề Tổ trạch giữ tròn gia thanh,

Trong gia đình trên bình dưới thuận,

Trong họ hàng bách nhẫn thái hòa,

Xuân về thắm trổ muôn hoa,

Non sông gặp hội ơn ca thái bình,

Nay buổi lễ kính thành bái tạ,

Chư Tiên linh trở lại Từ đường,

Tả chiêu hữu mục theo hàng,

Tinh anh hội tụ khói nhang phụng thờ,

Tuy nén hương đơn sơ lễ nhỏ,

Xin lượng trên thấu tỏ lòng thành,

Nguyện cầu Tứ phủ Vạn linh,

Thập phương Tam bảo chứng minh hộ trì,

Cầu Tiên Tổ uy linh giám cách,

Bảo tử tôn xuân vĩnh, thọ trường.

Gia gia không mắc tai ương

Phúc lộc cùng đắc vinh xương, danh tài

Không vướng bát nạn, tam tai

Cắt đoạn nghiệp chướng an khang tứ thời.

Khẩn thiết chí thành chí tâm, Tử tôn thành bái tạ.

Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh:

Quán tự tại. Cố tâm vô quản ngại, việt siêu khổ hải. Đại minh thần chú, diệt trừ tai. Ngũ uẩn không pháp thể chu sa giới, Ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới, Ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới.

Quán tự tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách. Xá Lợi tử! sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi tử! thị chư Pháp – không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc vô thọ tưởng hành thức; vô nhãn nhĩ tĩ thiệt thân ý; vô sắc thanh hương vị xúc Pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử diệc, vô lão tử tận; vô khổ tập diệt đạo; vô trí diệc vô đắc dĩ, vô sở đắc cố. Bồ đề Tát đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu Đa la Tam miệu Tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại Thần chú, thị đại Minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thế khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:

Ga tê Ga tê Pa ra Ga tê Pa ra Sam Ga tê Bồ đề. Sva ha. (3 lần)

(Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề Sa bà ha)

Tử tôn kiền thành tạ lễ Gia tiên. Ngũ bái.

Nam mô A Di đà Phật (5 vái)

Chúc thực khoa

Hương phụng hiến cúng Dàng Tiên tổ (Hiển khảo, hiển tỷ…) chân linh, phả cập Cửu huyền thất Tổ, Cao cao tằng Tổ khảo, Cao cao Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ, Tổ cô Hoàng mãnh hội đồng, Hiển khảo hiển tỷ (Cha mẹ đã chết), Thúc bá Cô di Tỷ muội, huynh đệ, nhất thiết đẳng chư chân linh.

Tử tôn (tín chủ, đồng gia…) kiền tương hương phụng hiến; nguyện kỳ tiên Tổ giáng đường tiền, bảo hộ Tử tôn đa cát khánh, tứ thời bát tiết hưởng Thiên duyên.

       Ôm. Tra ma la. Sva ha. (3 lần)

(Án bắc đế tra sa ha)

Thiết dĩ: Từ đường nghiêm khiết, tịnh cúng phu trần, lự bài biện tri Phật nghiêm, khủng vãng lai chi cấu uế, bằng tư pháp thủy, quán sái Tổ đường (gia đường, từ đường). Giáo hữu tịnh uế chân ngôn cẩn đường trì tụng.

Nhất bát thanh lương thủy,

Quán xái tận tiền đường,

Cung thỉnh Tiên tổ (Hiển khảo, hiển tỷ…) giáng

Tất nhiên thường thanh tịnh.

        Ôm. Tra ma la Thi tha rla đi stra. Sva ha. (3 lần)

(Án, tra ma la thiện thần la địa tra sa ha)

   Nam mô Li cấu địa Bồ Tát Ma ha tát. (3 lần)

Cung văn: Ẩm phương tuyền tụ tri tỉnh xuất, nhu hương đạo yến thức diền sinh nhân cư Thiên Địa chi gian, chiếu xuất vu tình ư vạn địa.

Tu bằng cảm cách ư tư nhân… … thiên (kỵ nhật, lễ Tết), đồng tộc (đồng gia) đồng gia quyến đẳng, cờ vì đản nhật, quảng thiết hồng nghi cẩn cụ tu thiết hương hoa, đăng trà quả thực, kim ngân tài mã, phù tửu hùng kê, phù lưu thanh tước, ngũ thể tịnh cúng phi nghi, phụng vọng …chân linh (Tổ tiên, Tiên linh …) giám cách. Giáo hữu nhiên hương cẩn đương trì tụng.

Nhất chuyên bảo hương cung kính lễ,

Nguyện kỳ Tiên tổ (Hiển khảo hiển tỷ…) tác chứng minh,

Nhật nguyệt Tử tôn đa cát khánh

Gia môn thịnh vượng phúc hưng long.

      Nam mô Hương cúng Dàng Tổ tiên Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Thiết dĩ: Hạnh phùng tiết nhật, gia tộc yếu nghênh, xuyên kỳ Tổ đức, giáng uy nghi. Giáo hữu triệu thỉnh chân ngôn, cẩn đương trì tụng.

Đại Thánh A Di đà Phật

Quy khứ lai hề quy khứ lai

Thân bằng tịnh độ cửu liên khai

Thệ tùy tiếp dẫn Di đà Phật

Đồng niệm Di đà khứ lai

         Nam mô Bu pu Tê ri – Ka ri Ta ri – Ta tha ga ta ja. (3 lần)

(Nam mô Bộ bộ đế lỵ già ly đá lỵ đát đá tha nga đá da)

Dĩ thử linh thanh thân triệu thỉnh,

Ngưỡng kỳ Tiên tổ (Hiển khảo hiển tỷ…) tất văn chi,

Kim bằng Tam bảo lực gia trì,

Thử nhật kim thời lai giáng phó.

   Ôm. Tri lin. Sva ha.  (3 lần)

(Án chi linh sa ha)

   Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn tuyên dương dĩ kính, Tử tôn chí thành kiền thành phụng thỉnh. Nhang hoa thỉnh.

          Nhất tâm phụng thỉnh: Đầu xưng phục vì, cố chính tiến Tiên tổ (Hiển khảo hiển tỷ, vong linh… nhất vị chân linh …). Duy nguyện: Thừa Tam bảo chi diệu lực. Trượng bí mật chi chân ngôn. Giáng phó Gia đường (từ đường), thụ tư cúng dàng Nhang hoa thỉnh.

          Nhất tâm phụng thỉnh: Cửu huyền thất Tổ, Cao cao tằng Tổ khảo, Cao cao Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ, Tổ cô Hoàng mãnh hội đồng, Hiển khảo hiển tỷ, Thúc bá Cô di Tỷ muội, huynh đệ, nhất thiết đẳng chư chân linh. Duy nguyện: Tổ tiên giám cách, nguyện thân phục chỉ, hiếu phụng xuân thu, giáng phó Tổ đường (gia đường) cúng dàng, chứng minh công đức. Nhang hoa thỉnh.

          Nhất tâm bái thỉnh: Tổ tiên hệ phái, chi ngành đẳng đẳng Tông môn nhất thiết liệt vị. Duy nguyện: Tổ tông bất thác bảo hộ Tử tôn giáng phó Tổ đường (gia đường) thụ tư cúng Dàng, chứng minh công đức. Nhang hoa thỉnh.

Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn tuyên dương dĩ kính. Giáo hữu an tọa chân ngôn cẩn đương trì tụng.

Tiên tổ (Hiển khảo hiển tỷ ) lưu quang lai giáng phó,

Khoát nhiên tâm nguyện thính gia đà,

Tùy phương ứng hiện biến quang minh,

Nguyện giáng Từ đường (gia đường) an vị tọa.

Nam mô Vân lai tập tọa Bồ tát Ma ha tát (3 lần)

Nam mô An vị tọa Bồ tát Ma ha tát (3 lần)

Phục vọng: Tổ tiên (Hiển khảo hiển tỷ ), nhất thiết liệt vị chân linh, đẳng đẳng sảng linh, trùng trùng quyến thuộc quang giáng Tổ đường (gia đường) thụ kỳ lễ giáo, hữu biến thực chân ngôn cẩn đương trì tụng, hóa vô vi hữu, biến thiểu thành đa.

BIẾN THỰC CHÂN NGÔN :

Nam mô Sa rva Ta tha ga ta – A va lô ki tê. Ôm. Sam ba ra – Sam ba ra. Hum

(Nammô tát phạ đát tha nga, đá phạ rô chỉ đế, Án, tam bạt la, tam bạt la hồng).

CAM LỘ THỦY CHÂN NGÔN :

      Nam mô Tô rô Ba ja – Ta tha ga ta ja – Ta đi ja tha:

           Ôm. Tô rô Tô rô – Ba ja Tô rô – Ba ja Tô rô. Sva ha. (3 lần)

(Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha,

Án, Tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha)

PHẢ CÚNG DÀNG CHÂN NGÔN:

    Ôm. Ga ga nga, Sam ba va Va jra. Hôh. (3 lần)

(Án, nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhất la hộc)

Nam mô Phả cúng Dàng Bồ tát Ma ha tát (3 lần)

Thượng lai Chúc thực dĩ kính, kim hữu cấp phó điệp văn, cẩn đương tuyên đọc (tuyên sớ, không có sớ đọc đường Phục vọng). Thượng lai văn sớ tuyên đọc dĩ chu, sớ đối Tổ từ dụng bằng hóa hỏa (hóa sớ).

Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh:

Quán tự tại, cố tâm vô quải ngại, việt siêu khổ hải. Đại minh thần chú, diệt trừ tai. Ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới, ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới…

Tiếp có thể tụng Di Đà  kinh:

……………………….

Tường phùng, Thiết dĩ:

(Nếu là người thường thì bạch đường Tường phùng, nếu là bậc đại nhân thì bạch đường Thiết dĩ)

Tường phùng: Bách niên quang cảnh, toàn tại Sát na, tứ đại huyễn thân, khởi năng tràng cửu. Mỗi nhật trần lao cốt cốt, chung chiêu nghiệp thức mang mang. Bất tri nhất tích chi viên minh đồ sính lục căn chi tham dục ; công danh cái thế, vô phi đại mộng nhất tràng; phú quý kinh nhân nan miễn vô thường nhị tự. Tranh nhân tranh ngã, đáo để thành không; khoa hội khoa năng, tất kính phi thực. Phong hỏa tán thời vô lão thiếu, khê sơn ma tận kỷ anh hùng; lục mấn vị kỷ nhi bạch phát tảo xâm, hạ giả tài lâm nhi điếu giả tùy chí.

Nhất bao lung huyết tràng niên, khổ luyến ân tình thất xích, khô lâu tứ ý san tham tài bảo ; xuất tức na kỳ nhập tức, kim chiêu bát bảo lai chiêu. Ái hà xuất một kỷ thời hưu, hỏa trạch ưu tiễn hà nhật liễu. Bất nguyện xuất ly nghiệp võng, chỉ ngôn vị hữu công phu ; Diêm la vương hốt địa lai truy, Thôi Tướng công khơi dung triển hạn. Hồi thủ gia thân dò bất hiến, đáo đầu nghiệp báo tự thân đương. Quỷ vương ngục tooisnhaats nhậm khi lăng; kiếm thụ đạo sơn cánh vô tồi để. Hoặc tiếp ốc tiêu sơn hạ, hoặc tại thiết vi sơ gian. Thụ hoạch thang tắc vạn tử Thiên sinh, tao hỏa nạp tắc nhất đao lưỡng đoạn.

Cơ thôn nhiệt thiết, khát ẩm dong đồng; thập nhị thời cam thụ khổ tân, ngũ bách kiếp bất kiến đầu ảnh. Thụ túc tội nghiệp, phục nhập luân hồi; đốn thất cựu thời nhân thân, hoán khước giá hồi bì đại. Phi lao đới giốc, hàm thiết phụ yên; dĩ nhục cung nhân, dụng mạnh hoàn trái. Sinh bị đao chiên chi khổ, hoạt tao thang hỏa chi tai. Hỗ tích oan khiên, đệ tương thực hám. Na thời truy hối, học đạo vô nhân; hà như trực hạ thừa đương, mạc đãi thử sinh không quá.

Thiết dĩ: Nhân sinh tại thế, do như diệp mậu hoa hồng; minh lũy đại hạn đáo lai, các tự chiêu xương hiểu lộ, ngã Phật thân tràng trượng lục, tịch diệt song lâm; Lão Quân đan luyện cửu hoàn chung quy thệ thủy. Ta bát bách niên chi Bành Tổ, thán thứ bách tuế chi Nhan Hồi.

Tuy nhiên lão thiếu bất đồng; nhậm nãi tử sinh bình đẳng. Giả như Tam Hoàng thọ mệnh, khởi miễn luân hồi; Ngũ Đế Thánh quân nan lưu bất tử. Thần Nông diệu dược, bất y hạn tận chi nhân. Biển Thước linh đan mạc cứu số chung chi sĩ ; Tần Thủy Hoàng di sơn tắc hải mạng táng xa kỳ. Sở Bá Vương khí lực bất sơn Ô giang tự vẫn. Từ cảnh công thiên tứ phì mã, chung thành uổng hố lư diêm. Hán Hàn Tín thập đại công lao, cự bảo tràng sinh tại thế. Mạnh Thường Quân tam thiên kiếm khách cá cá thân vong. Khổng Phu Tử thất thập nhị hiền nhấn nhân hà tại.

Kham thán! Chu, Tần, Hán, Ngụy lâu dài không tỏa ư hoang giao.

Khả thương! Tấn, Tống, Tề, Lương quan quách tận mai ư khoáng giã. Cổ Thánh tiền hiền, dã tằng đôi kim tích ngọc, dã tằng yêu tử yêu hoàng, dã tằng đoạt lợi tranh danh, dã tằng giác văn đấu võ. Ô hô! Nhân sinh cáp tự thủy đông lưu, trí sính anh hùng xung đẩu ngưu, tam thốn khí tồn Thiên ban dụng; nhất đán vô thường vạn sự hưu. (hết đường Thiết dĩ)

Nhất thiết sơn nham, giai hữu băng liệt

Nhất thiết giang hà, giai hữu khô kiệt

Nhất thiết thụ mộc, giai hữu tồi triết

Nhất thiết vạn vật, giai hữu bại hoại

Nhất thiết ân ái, giai hữu ly biệt

Nhất thiết phiền lão, giai hữu hưu yết

Nhất thiết tình thâm, kim chiêu đoạn tuyệt

Nhất thiết Pháp thân, thường trụ bất diệt.

Kham thán! Nhân sinh bách tuế, dụ nhược sát na. Nhược đông thệ chi thừa ba; từ tây thùy chi tàn chiếu. Kích thạch chi tinh hỏa; quá khích chi tấn câu, phong lý chi vi đan, thảo đầu chi huyền lộ; lâm ngạn hổ hủ thụ, thiểm mục điện quang, hà nãi tình tư vạn tự. Ý khởi bách đoan, trần võng thiên trùng mật mật. Thường lung ý địa, ái thằng tràng kết điều điều tận kế; Tình điền tủng cao thụ ư, mạnh sơn hoành biến Pháp giới. Dũng tràng bá ư tham hải, thôn tận dực lưu bất như niệm Phật tảo tu hành; tức đắc vãng sinh an lạc quốc.

Tư giả chân linh, thính thử vô sinh chi cú, tiện siêu hữu lậu chi nhân. Tái niệm chân linh, tùy ngã âm thanh, thính niệm Hàng ma diệu kệ, phó giữ chân sinh, kim đương cánh chức.

Kệ Hàng ma:

Thạch hỏa điện quang năng kỷ hà

Khả lân ân ái thụ bôn ba

Bì can thượng luyến tư tài quảng

Hoàng sứu do tham tử sắc đa

Tịch tử chiêu sinh na khẳng tức

Tâm hồn truy khứ kiến Diêm la

Ty hào tội phúc tòng đẩu số

Vạn bạ phân minh định bất ta

Sai tống thiết sàng đồng trụ ngục

Ngôn thanh ai cáo khổ ngâm nga

Ngã kim hối hận tu hành vãn

Miễn tử hoàn vi tượng, mã, loa

Lụy thế nghiệp duyên nhân tự muội

Vị năng thành Phật khởi do tha

Nhân nhân hữu cá chân như tính

Sinh tử thùy nhân khẳng luyện ma

Chân linh thính thử vô sinh chi cú, tùy ngã âm thanh tề xưng Tây phương Tứ Thánh, bảo hiệu tùy niệm vãng sinh Tây phương kiến Phật.

Ô phi thọ thổ cấp như thoa, kham thán nhân sinh năng kỷ hà, duy hữu Tây phương khoái lạc đa, hàn sơn thập đắc tiểu ha ha. Tảo tảo giác ngộ khuyên mạc ta đà, giá hồi qui khứ, qui khứ kiến Di đà, A Di đà Phật.

Nam mô A Di đà Phật. (108 biến)

Nhậm quân tích ngọc dữ đôi câm, nan mãi vô thường bất đáo lâm, Duy hữu Tây phương khoái lạc thâm, hàn sơ thập đắc tiếu hân hân. Tảo tảo giác ngộ khuyến mạc trầm ngâm, giá hồi qui khứ, qui khứ kiến Quán âm, Quán Thế âm Bồ tát.

Nam mô Quán Thế âm Bồ tát. (10 biến)

Nhân sinh thất thập cổ lai hi, Bách tuế quang âm quá khích ky. Duy hữu Tây phương khoái lạc di, hàn sơn thập đắc tiếu hi hi. Tảo tảo giác ngộ khuyến mạc trì nghi, giá hồi qui khứ, qui khứ kiến Thế trí, Thế trí đại Bồ tát.

Nam mô Đại Thế trí Bồ tát. (10 biến)

Nam kha nhất mộng thục hoàng lương, kham thán nhân sinh bất cửu trường. Duy hữu Tây phương khoái lạc thường, hàn sơn thập đắc tiếu dương dương. Tảo tảo giác ngộ khuyến mạc tư lường, giá hồi qui khứ, qui khứ kiến Thanh tịnh, Đại Hải chúng Bồ tát.

Nam mô Thanh tịnh Đại Hải chúng Bồ tát. (10 biến)

Nguyện sinh Tây phương tịnh độ trung, Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh, Bất thoái Bồ tát vi bạn lữ

Liên trì Hải hội, Di đà Như lai, Quán âm Thế trí tọa liên đài,

Tiếp dẫn kim giai đại thệ, hoàng kha phả nguyện ly trần ai.

Nhất thiết vi hữu Pháp, Như mộng huyễn bảo ảnh như lộ diện như điện. Ưng tác như thị quán, Chư hành vô thường, thị sinh Pháp diệt, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc.

Tư giả chư gia tiên … tộc (Tổ tiên, Hiền khảo…) hoặc chân linh… nhất vị chân linh. Duy nguyện: Nhất chân bất muội. Lục dục đốn không, Vĩnh thoát nhân gian, sinh tử căn trần, đốn nhập Như lai, Bảo minh không hải. Quán âm tác bạn, Thế chí vi bằng, Bát đức trì trung thân tẩy đãng, Cửu liên đài bạn nhậm tiêu dao, Thần thê tịnh vực nghiệp tạ trần lao, Liên khai thượng phẩm chi hoa, Phật thụ nhất sinh chi ký. Giáo hữu vãng sinh chân ngôn, cẩn đương trì tụng.

Nam mô A mi ta ba ja – Ta tha ga ta ja. Ta đi ja tha:

Ma ri tôđ ba vê – Am ri ta Siđ đam Ba vê – Am ri ta Vi cra tê

                  Am ri ta Vi cra ta – Ga mi nê Ga ga na – Ki rta Ca rê. Sva ha. (3 lần).

(Nẵng mồ a di đá bà dạ, đá tha già dạ, đá địa dạ tha, a di ly đồ bà tỳ, a di ly đá tất đam bà tỳ, a di ly đá tỳ ca lan đế, a di lị đá tỳ ca lan đá, già di nhị già, già na chỉ đá ca lệ sa bà ha)

Nam mô Sinh Tịnh độ Bồ tát Ma ha tát (3 lần)

BÁT NHÃ TÂM KINH:

Quán tự tại. Cố tâm vô quản ngại, việt siêu khổ hải. Đại minh thần chú, diệt trừ tai. Ngũ uẩn không pháp thể chu sa giới, Ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới, Ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới.

Quán tự tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách. Xá Lợi tử! sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi tử! thị chư Pháp – không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc vô thọ tưởng hành thức; vô nhãn nhĩ tĩ thiệt thân ý; vô sắc thanh hương vị xúc Pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử diệc, vô lão tử tận; vô khổ tập diệt đạo; vô trí diệc vô đắc dĩ, vô sở đắc cố. Bồ đề Tát đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu Đa la Tam miệu Tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại Thần chú, thị đại Minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thế khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:

Ga tê Ga tê Pa ra Ga tê Pa ra Sam Ga tê Bồ đề. Sva ha. (3 lần)

(Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề Sa bà ha)

Tử tôn kiền thành tạ lễ Gia tiên. Ngũ bái.

Làng Nam Trì – 南池

foM_rUwpxFQnNgSjayH_vw

Nam Trì là thôn Nam Trì, làng Nam Trì thuộc xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên, Việt Nam .

Nam Trì 1 trong 7 là thôn của xã Đặng Lễ. Nam Trì ở phía tây bắc của xã Đặng Lễ. Phía bắc và đông bắc giáp quốc lộ 38, phố Đìa (thuộc thị trấn Ân Thi). Phía đông giáp sông Quảng Lãng, bên kia sông là hai thôn Đặng Đinh và Đặng Xuyên (đều thuộc xã Đặng Lễ). Phía Nam giáp thôn Đới Khê, phía Tây, Tây Bắc giáp 2 xã của huyện Kim Động. Địa hình chủ yếu là hồ ao, gò đống. Ngày xưa Nam Trì có thế đất Phượng Hoàng Hàm thư (Chim Phượng Hoàng ngậm thư), có bốn khu, sau sát nhập lại thành hai khu gọi Bảo Tàng, Ngọc Khê, được mô tả: Thiên Nam Trì thuỷ sơn hà đới – Địa Bảo Tàng hương bích Ngọc khê (nghĩa là: Thiên nhiên Nam Trì thủy sơn sông nước bao quanh; Đất đai Bảo Tàng có khe nước trong xanh). Nam Trì là nơi có tam giang giao hội, thuỷ tụ khê lưu, chảy vòng chín khúc tức là 3 mặt hai dòng dông lớn (phía bắc và phía đông) và dòng sông nhỏ (phía tây) như câu đối của Thánh địa lý Tả Ao treo tại đình Nam Trì: Tây lộ khê lưu kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền nghĩa là phía tây của đường làng có dòng nước chảy, phía sau của Làng là hướng Tây Bắc (hướng tây bắc hành kim) – phía đông làng có sông nước tụ làng nhìn về hướng đông nam (hướng đông nam hành mộc).

Dân số của thôn Nam Trì 1.350 người (theo thống kê năm 2008), gồm 350 hộ dân. Mật độ dân cư đông, dân trí tương đối cao. Là một thôn thuộc đồng bằng thuần nông, chuyên canh lúa nước có nghề phụ truyền thống là nghề trồng rau cần và trồng bí xanh. Ngoài làm nông nghiệp, trong lúc nông nhàn còn buôn bán nhỏ, nghề phụ ở các nơi.

Nam Trì là một làng quê điển hình của đồng bằng châu thổ sông Hồng, tập quán thuần hậu, chủ yếu theo đạo Phật, đạo Mẫu. Làng Nam Trì được công nhận là làng Văn hóa, chùa làng (tên là Phổ Thung tự) là di tích Văn hóa Lịch sử cấp tỉnh.

Theo tư liệu lịch sử thì thôn Nam Trì trước kia là trang Nam Trì (tên chữ 南池 nghĩa là ao phía nam, ao Vua,…) thuộc tổng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, bộ Giao Chỉ (một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời Hùng Vương). Thời Tây Hán thuộc huyện Chu Diên quận Giao Chỉ. Thời nhà Lương thuộc quận Võ Bình đến thời Tùy thì bỏ và đến thời Đường thuộc châu Diên. Thời loạn 12, thuộc xứ Đằng Châu. Thời Lý thuộc châu Khoái, thời Trần thuộc Khoái lộ. Thời Minh thuộc Khoái châu. Thời Lê Thái tổ thuộc Nam đạo, thời Lê Thánh Tông thuộc Sơn Nam thừa tuyên. Thời Mạc lại thuộc Hải Dương, thời Lê trung hưng thuộc phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam thượng, thời nhà Nguyễn thuộc trấn Sơn Nam . Năm 1831, thời Minh Mạng, trang Nam Trì gọi là xã Nam Trì thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên. Thời Pháp thuộc cho đến nay, trang Nam Trì gọi là thôn Nam Trì thuộc xã Đặng Lễ (có thời kỳ gọi là xã Phan Chu Trinh), huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Năm 1970 tỉnh Hưng Yên nhập với tỉnh Hải Dương nên thuộc tỉnh Hải Hưng và năm 1997 lại tách ra nên thuộc tỉnh Hưng Yên.

Thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, nhà Tây Hán chiếm Nam Việt, trang Nam Trì có đền thờ hai vị Thần là anh em kết nghĩa là Tướng Nguyễn Danh Lang Lang Công (sinh tại Nam Trì), Tể tướng Lữ Gia (ngụ tại Nam Trì). Thế kỷ thứ 9, thời Đường Ý Tông, Thánh địa lý Cao Biền sang Giao Châu tiễu trừ giặc Nam Chiếu, qua Nam Trì đóng đồn tại đền thờ, dựng hành cung, kết nghĩa anh em với hai vị Thần, cưới hai phu nhân Lữ Lương, Lự Lương ở Ngọc Khê, Nam Trì, giúp dân sửa miếu, lập đền Nam Trì nên khi hóa dân làng đã thờ cùng hai vị tướng. Xưa trong đền có bức đại tự nói về việc ba vị Thần kết nghĩa đào nguyên. Cuối thế kỷ 15, thời Lê sơ, Thánh địa lý Tả Ao – Vũ Đức Huyền về Nam Trì lập lại làng, nên khi hoá dân làng coi như Thần Hoàng làng và thờ cùng với ba vị trước [cần dẫn nguồn]. Lễ hội hàng năm gọi là lễ hội Bảo, Lang, Biền hay lễ hội Nam Trì có lễ rước ba vị Thần về gò đình Ba Xã để tế lễ. Đền Nam Trì còn thờ Lâu nương Công chúa (phu nhân của Tể tướng Lữ Gia) và hai vị phu nhân của Cao Biền là Phạm A Lự, Phạm Lự nương (Thần tích, Thần sắc thôn Nam Trì, tổng Thổ Hoàng, phủ Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, có mã số: TT-TS FQ 40 18/X11, 11 lưu trữ tại Trung tâm Khoa học Xã hội Việt Nam). (xem thêm sự tích 7 vị thần)

Thời phong kiến có nhiều người đỗ đạt, khoa bảng như: Tiến sĩ Đinh Tú, đỗ Tiến sĩ năm 1544 được ghi ở Văn Miếu Quốc Tử giám – Hà Nội và Văn miếu Xích Đằng – Hưng Yên và bổ nhiệm làm quan Hiến Sát xứ Hải Dương, được phong tước Phù Nham bá. Hậu duệ của cụ Đinh Tú là Đinh Văn Tả là một danh tướng thời Lê – Trịnh. Khi Quận công Đinh Văn Tả được phong tước, phong Thần, chúa Trịnh có ban cho bổng lộc để về xây lại đình tại quê gốc Nam Trì (đình Nam Trì trước kia có thờ cả thanh gươm, sắc của họ Đinh. Năm 1953 bị bom Pháp phá hỏng, gần đây mới dựng lại).

Nam Trì – làng cổ

YiA4fXNJSp_5ZW_gOiXCFA
Nam Trì (tên chữ: 南池) nghĩa là ao phía nam, ao Vua,… Theo thần tích và tư liệu lịch sử thì từ thời Hùng Vương, An Dương vương đến thời nước Nam Việt, trang thuộc tổng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, bộ Giao Chỉ (một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời Hùng Vương). Thời Tây Hán thuộc huyện Chu Diên quận Giao Chỉ. Thời Lương thuộc quận Võ Bình đến đời Tùy thì bỏ và đến thời Đường thuộc châu Diên. Thời loạn 12 xứ quân, thuộc xứ Đằng Châu. Thời Lý thuộc châu Khoái, thời Trần thuộc Khoái lộ đến thời Minh thuộc Khoái châu. Thời Lê Thái tổ thuộc Nam đạo, thời Lê Thánh Tông thuộc Sơn Nam Thừa tuyên. Thời Mạc thuộc Hải Dương, thời Lê trung hưng thuộc phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam rồi lộ Sơn Nam thượng; thời nhà Nguyễn, nhà Tây Sơn thuộc trấn Sơn Nam thượng. Năm 1831, thời Minh Mạng trang Nam Trì gọi là xã Nam Trì thuộc huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên. Thời Pháp thuộc cho đến nay, trang Nam Trì gọi là thôn Nam Trì thuộc xã Đặng Lễ (có thời kỳ gọi là xã Phan Chu Trinh), huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Năm 1970 tỉnh Hưng Yên nhập với tỉnh Hải Dương nên thuộc tỉnh Hải Hưng, năm 1997 lại tách ra nên thuộc tỉnh Hưng Yên.
Làng Nam Trì ngày nay vốn là trang Nam Trì, xã Nam Trì xưa, thuộc tổng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam. Đất Nam Trì xưa vốn sơn thủy hữu tình, địa thế quan kỳ, có thế “Phượng Hoàng Hàm thư, long đỗ, qui vĩ” (chim Phượng hoàng ngậm thư, rốn rồng, đuôi rùa). Đất Nam Trì còn nằm ở nơi tam giang giao hội, thuỷ tụ khê lưu, chảy vòng chín khúc (nơi ngã ba sông, chín nhánh sông uốn khúc chảy vòng, nước tụ). Địa lý, phong thủy đất Nam Trì được mô tả như nội dung bức đại tự trong đền Nam Trì cổ: “Thiên Nam Trì thuỷ sơn hà đới – Địa Bảo Tàng hương bích Ngọc Khê” – 天南池水山河帶-地寶藏鄉碧玉溪 (Thiên nhiên Nam Trì sơn thủy sông nước bao quanh; Đất đai hai khu Bảo Tàng, Ngọc Khê như bức tranh quê).
Xưa kia trang Nam Trì vốn là một vùng ao hồ, sông nước, những gò những đống lô nhô, um tùm lau sậy, ngập cỏ ba cạnh. Cánh xứ Voi Phục phía Nam làng Nam Trì còn có cả một rừng lim; giao thương, đi lại chủ yếu bằng thuyền bè. Hai con sông Nguyệt Đức ở phía Tây Bắc, Kim Ngưu ở phía Đông Nam vốn sâu, rộng, có nhiều nhánh con, giao nhau nên gọi là tam giang, cửu khúc. Một nhánh con của sông Nguyệt Đức ở phía Tây chảy xuôi về phía Nam làng Nam Trì và ôm lấy làng Giải nên tên chữ làng này là Ngọc Khê (khe nước trong); sau đổi thành Đới Khê (đai khe nước). Dòng nước này chảy tiếp về làng Ngói (An Trạch) rồi vòng ra đầu làng Vân (Thọ Hội) nhập vào sông Kim Ngưu.
Tương truyền thời Lê sơ, khoảng từ thời Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông và Lê Uy Mục, tức là khoảng những năm (1442-1509), Thánh Địa lý Tả Ao – Vũ Đức Huyền chu du vùng huyện Thiên Thi và tỉnh Hưng Yên. Tại các nơi này, Ông đã cắm đất xây đình chùa, đặt mồ mả cho nhiều họ tộc. Câu ngạn ngữ “nhất Thi nhì Hới” lưu truyền trong dân gian nói về việc Ông đã cắm đất xây đình chùa, đặt mồ mả giúp cho làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) phát về đường khoa cử và làng Hới (tức Hải Triều thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên) phát về đường buôn bán.
Thời gian ngụ tại Nam Trì, Ông đã giúp dân lập làng mới (tức là chuyển làng Nam Trì từ cánh xứ Đa Quán – phía Tây Bắc về địa điểm ngày nay). Làng mới nằm ở vị trí ngã ba sông, giữa sông Kim Ngưu, Nguyệt Đức và nhánh con của sông Nguyệt Đức. Nhánh con này gọi là khê (tức khe nước nhỏ), như câu đối của Ông trong đền Nam Trì tả về địa lý, phong thuỷ của làng Nam Trì mới: “Tây lộ khê lưu kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền” nghĩa là phía Tây của làng có đường và dòng nước chảy, phía sau làng là hướng Tây Bắc (hướng Tây Bắc hành Kim) – phía Đông làng có sông nước tụ, phía trước làng hướng Đông Nam (hướng Đông Nam hành Mộc).
Cánh Bến, cầu Bến ở phía Đông Nam của làng Nam Trì, xưa kia vốn là bến nước, bến thuyền đông đúc trên sông Kim Ngưu. Đền, chùa Nam Trì và mộ hai vị Thần: Bảo Công, Lang Công (Tể tướng Lữ Gia, Đại tướng Nguyễn Danh Lang), cũ cũng từng ở đây. Xưa kia, nơi đây vốn có thế đất quí nên Đức Cao Vương (Cao Biền) đã chọn nơi để dựng chùa làng và đền thờ 2 vị “Thượng đẳng Phúc thần” Bảo Công, Lang Công. 7 thế kỷ sau, đất nơi đây kiệt mạch, làng mới được hình thành nên Thánh Địa lý Tả Ao đã chọn hai gò đất ở phía Nam của làng để dựng đền, chùa mới.
Chùa Nam Trì tên chữ Phổ Thung (Phổ Xuân) tọa lạc ở phía Tây Nam của làng, tại gò cao thế đất “long thủ” (đầu rồng). Hai mắt rồng là giếng chùa và ao sau chùa. Tương truyền khi khơi giếng chùa (cũng là giếng làng), nước phun lên ngập cả một vùng. Dân làng sợ ngập mất làng nên lấy cả phiến đã to như cái chiếu và hàng chục cối đá ném xuống để lấp dòng nước phun lên. Hiện nay, ao sau chùa không còn nên Thánh Địa lý Tả Ao hiển linh nói rằng đất chùa có thế độc long, độc nhãn (rồng một mắt).
Cánh xứ Mã Phát ở phía Tây Nam của làng Nam Trì, là cánh ruộng trước cửa chùa là nơi đền cũ, nơi phát tích, nơi đồn trú, nơi tế lễ các bậc đế vương, tướng công. Vì gần đây, Mã Phát từng là nghĩa địa nên gọi là Mả Phát. Đình Ba Xã (nơi tế Thần), hành cung Ngọc Khê của Đức Cao Vương và hai vị Phạm phu nhân cũng ở nơi đây xưa kia.
Nam Trì có một địa danh khá thần bí, huyền ảo. Đó là cánh xứ Voi Phục ở phía Nam làng, giáp thôn Đới Khê. Xưa kia, địa danh Voi Phục này là nơi um tùm cỏ ba cạnh xen lẫn rừng lim. Đặc biệt và, thế đất gò đống như đàn voi nằm, lại kề cánh xứ Mã Phát, hành cung Ngọc Khê, đình Ba Xã. Voi Phục là bãi giữ voi của quân tướng triều đình xưa kia. Có một truyền thuyết liên quan đến họ Đinh ở Nam Trì với nguồn gốc địa danh cánh xứ Voi Phục. Con cháu họ Đinh tại Nam Trì vẫn cho rằng sở dĩ có cái địa danh Voi Phục là vì xưa kia đây là bãi giữ voi của triều đình khi đưa linh cữu Tiến sĩ Đinh Tú (hoặc Quận công Đinh Văn Tả) về Nam Trì an táng, tế lễ.
Tương truyền, thời Thánh Địa lý Tả Ao ngụ tại Nam Trì, đã cắm đất đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò đất cánh xứ vườn Bông được thế “Tam Thai” để dòng họ Đinh phát về võ tướng. Quả nhiên như vậy. Mấy chục năm sau, năm Nguyên Hòa thời vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải – 1544) hay thời vua Lê Trang Tông (1533-1548), con cháu họ Đinh đã phát danh khoa bảng. Đó là ông Đinh Tú đỗ Tiến sĩ được ghi bia đá ở Văn Miếu Quốc Tử giám – Hà Nội và Văn miếu Xích Đằng, Hưng Yên. Vinh qui bái tổ xong, ông Đinh Tú được triều đình (Lê hoặc Mạc) bổ nhiệm làm quan ở Hải Dương, phong chức “Hiến sát xứ”, tước “Phù Nham bá”. Sau, hậu duệ của ông đều là những danh tướng nổi tiếng thời Lê – Trịnh như Quận công Đinh Văn Tả. Quận công Đinh Văn Tả là cháu gọi ông Đinh Tú là cụ sinh ra ở làng Hàm Giang, nay thuộc phường Quang Trung, TP Hải Dương. Quận công Đinh Văn Tả được phong Thần từ lúc sống (Sinh phong), khi mất được vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn tới viếng và ban thụy hiệu là Vũ Dũng, sai Bộ Lễ về nguyên quán(!) hộ tang (nguyên quán là Nam Trì, quê quán là Hàm Giang), tổ chức lễ tang với nghi thức của bậc đế vương. Công trạng lớn lao của ông thể hiện việc chúa Trịnh Căn viếng đôi câu đối: “Tiết việt quyền long triều túc tướng – Phiên toàn trách trọng quốc nguyên huân”.
Nam Trì có một ngôi đền cổ (nay gọi là đình). Có từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Thời đó, nhà Tây Hán chiếm Nam Việt, trang Nam Trì có anh em kết nghĩa là Tướng Nguyễn Danh Lang (sinh tại Nam Trì), Tể tướng Lữ Gia (ngụ tại Nam Trì) quyết tâm chống nhà Hán đến cùng, khi hóa dân làng lập đền, thờ phụng. Thế kỷ thứ 9, thời Đường Ý Tông, Cao vương Thiên tử – Thánh địa lý Cao Biền sang Giao Châu tiễu trừ giặc Nam Chiếu, qua Nam Trì đóng đồn tại đền thờ hai vị Thần huynh đệ, dựng hành cung, kết nghĩa anh em với hai vị Thần, cưới hai phu nhân sinh đôi ở Ngọc Khê, Nam Trì là Phạm A Lữ, Phạm Lự nương, giúp dân sửa miếu, lập đền nên khi hóa dân làng đã thờ cùng hai vị Tướng anh em. Xưa trong đền có bức đại tự nói về việc ba vị Thần kết nghĩa đào nguyên. Lễ hội hàng năm vào tháng 3, gọi là “Lễ hội Bảo, Lang, Biền” hay “Lễ hội Nam Trì” có lễ rước ba vị Thần về gò đình Ba Xã để tế lễ và tổ chức các trò chơi dân gian.
Các triều đại Việt Nam, Trung Hoa đều sắc phong ba vị là “Thượng đẳng Phúc thần Dực bảo Trung hưng”, Công chúa Lâu nương (phu nhân của Tể tướng Lữ Gia, dòng dõi Hùng vương) là “Trung đẳng thần Dực bảo Trung hưng”, hai vị Phạm phu nhân được phong nam nữ đế Thần đồng thờ phụng. Ngày 24/11 Canh Thìn (1880) niên hiệu Tự Đức thứ 33, nhà Nguyễn sắc phong thêm ba vị Thượng đẳng Phúc thần làm “Thành Hoàng” ba làng Nam Trì, Đới Khê và Bảo Tàng.
Cuối thế kỷ 15, Thánh địa lý Tả Ao về Nam Trì lập lại hương thôn, chùa miếu nên khi Ngài hoá dân làng tôn làm vị “Phúc Thần” thứ tư và thờ cùng ba vị “Thượng đẳng Phúc thần” trong hậu cung. Năm 1953 bom quân đội Pháp rơi giữa sân đình, làm đình bị siêu. Sau bị đổ nát, tàn phá không còn dấu tích. Năm Bính Tuất (2006), hội đủ nhân duyên, Thiên thời, Địa lợi, được sự hiển linh, chỉ giáo của Thánh địa lý Tả Ao; một số hương tử, khách thập phương tâm đức và nhân dân Nam Trì đã quyết tâm dựng lại ngôi đền tại gò Vườn Soi. Gò Vườn Soi ở phía Đông Nam làng, gần cánh Bến, cạnh nơi xưa kia Cao vương Thiên tử đã từng chọn đất dựng đền thờ hai vị Thần Lang Công, Bảo Công. Gò Vườn Soi có thế đất “thủy nhiễu chu viên”, song long, tứ nhãn, nhị nhãn ẩn, nhị nhãn hiện” (nước chảy quanh vườn, hai rồng bốn mắt, mắt ẩn, mắt hiện) nên Thánh địa lý Tả Ao hiển linh, chỉ giáo nơi lập dựng đền mới. Bốn tháng sau khởi công, ngày 30/6 âm lịch năm Đinh Hợi (2007), khánh thành ngôi đền mới.

Tả Ao và làng Nam Trì

457cRhvg2lEOEAh1W.zKsQ
Tả Ao hay Thánh Địa lý Tả Ao, Tả Ao tiên sinh, tên thật là Vũ Đức Huyền, sinh năm Nhâm Tuất (1442), sống thời Lê sơ (Lê Thánh Tông , Lê Hiến Tông và Lê Uy Mục, tức là khoảng những năm 1442-1509). Các sử gia thời Lê Nguyễn đều không chép về ông nên cuộc đời ông chỉ được chép tản mát trong một số truyện, sách đại lý phong thủy thời nhà Nguyễn và sau này. Ngoài ra, có các sách Địa lý phong thủy Tả Ao và Địa lý Tả Ao chính tông của tác giả Vương Thị Nhị Mười; Nghiên cứu Phong thủy và Phong thủy Việt Nam của Ngô Nguyên Phi… đều nói sơ lược về Tả Ao.
Tuy nhiên qua nghiên cứu được biết gốc tích của ông vốn ở Sơn Nam (nay thuộc vùng Hưng Yên, Hải Dương ngày nay). Gia đình ông phiêu bạt nhiều nơi rồi dừng lại ở vùng Nghi Lộc (trấn Nghệ An) sau định cư tại làng Tả Ao, phủ Đức Quang, Nghệ An (nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Thời trẻ Ông theo thày Tàu sang Trung Quốc học nghề rồi trở lại quê hương bản quán. Cuộc đời ông phiêu bạt nhiều nơi với nghề địa lý phong thuỷ chính tông. Ông mất lúc gần 70 tuổi, hiện mộ của ông ở bên bờ sông Lam thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều truyền thuyết, giai thoại được sách vở ghi lại, truyền miệng trong dân gian như việc Tả Ao và Cao Biền thi thố tài năng (như Tả Ao phá trấn yểm của Cao Biền trên núi Tản Viên ở Hà Nội, núi Hàm Rồng ở Thanh Hóa,… ), các truyền thuyết, giai thoại Tả Ao tìm nơi đất tốt để đặt đình chùa, đền miếu, mồ mả, nhà cửa; giúp dân nghèo, trị kẻ gian ác. Tương truyền làng này có tục nọ, nghề kia là do Ông chọn đất, hướng đình; họ này phát danh khoa bảng, họ kia phát công hầu khanh tướng là do Ông tìm long điểm huyệt, đặt mồ đặt mả.
Ông là Thủy tổ khai môn địa lý phong thuỷ ở Việt Nam. Các sách vở cũng như truyền thuyết đều gọi Ông là Thánh Địa lý Tả Ao, trạng Tả Ao; là đệ nhất, chính tông về địa lý phong thuỷ Việt Nam, giỏi địa lý phong thủy như Cao Biền của Trung Quốc. Trong dân gian tương truyền nhiều giai thoại cổ về hành trạng pháp thuật phong thủy của Ông ở các làng xã Việt Nam thời xưa.
Ông còn có một quê hương thứ 2 đó là xã Nam Trì huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu trấn Sơn Nam (nay là làng Nam Trì xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên – nơi có đền thờ Tả Ao). Xưa kia đất Nam Trì vốn là một vùng ao hồ, sông nước và gò đống lô nhô, sơn thủy hữu tình, địa thế quan kỳ, có thế Phượng Hoàng Hàm thư, Long đỗ vĩ qui; nằm ở nơi tam giang giao hội, thuỷ tụ khê lưu, chảy vòng chín khúc (nghĩa là đất thế chim Phượng Hoàng ngậm thư, rốn Rồng đuôi Rùa; nơi ngã ba sông, chín nhánh sông uốn khúc, nước tụ). Địa lý Nam Trì được mô tả như nội dung bức đại tự trong đền Nam Trì cổ: Thiên Nam Trì thuỷ sơn hà đới – Địa Bảo Tàng hương bích Ngọc Khê – 天南池水山河帶-地寶藏鄉碧玉溪 (nghĩa là: Thiên nhiên Nam Trì sơn thủy sông nước bao quanh; Đất đai hai khu Bảo Tàng, Ngọc Khê như bức tranh quê).
Thời chu du thiên hạ với nghề địa lý phong thuỷ chính tông, Ông qua đất Nam Trì vào một năm mưa to nước lớn, nước ngập mênh mang, đổ cả cây đa cổ thụ rìa làng. Ở phía Nam làng có mạch nước ngầm phun lên ngập lụt cả một vùng vốn là hồ ao (nên mới có cái tên là Nam Trì). Dân làng sợ ngập mất làng phải mang cối đá, cả tảng đá to như cái chiếu lấp xuống để bịt mạch nước ngầm này. Ông bèn dừng chân cư ngụ. Rồi ông giúp dân lập làng mới tức là chuyển làng Nam Trì từ cánh xứ Đa Quán – phía Tây Bắc về địa điểm ngày nay. Làng mới nằm ở vị trí ngã ba sông, giữa sông Kim Ngưu (ở phía Đông), Nguyệt Đức (ở phía Bắc) và nhánh con của sông Nguyệt Đức (ở phía Tây). Nhánh con này gọi là khê (tức khe nước nhỏ), như câu đối của Ông trong đền Nam Trì tả về địa lý, phong thuỷ của làng Nam Trì mới: Tây lộ khê lưu kim tại hậu – Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền (nghĩa là phía Tây của làng có đường và dòng nước chảy, phía sau làng là hướng Tây – hành Kim – phía Đông làng có sông nước tụ, phía trước làng hướng Đông Nam – Nam hành Mộc). Rồi ông chọn hai gò đất ở phía Nam của làng để dựng đền, chùa mới chỗ Ao Vọng. Ông đã sống ở Nam Trì 17 năm.
Trong thời gian ở đây, Ông đã cắm đất, đặt mộ phần cho họ Đinh tại gò đất quí, hình thế Tam Thai tại cánh xứ Vườn Bông ở phía Nam của làng để con cháu họ Đinh phát về khoa cử, võ tướng. Đến năm Giáp Thìn Nguyên Hoà thứ 10 (1544) thời vua Lê Trang Tông (1533-1548) hay năm Quảng Hòa thứ 4 đời Mạc Phúc Hải con cháu họ Đinh là Đinh Tú đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, tên tuổi được ghi ở Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội) và Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên). Sau được triều đình Hậu Lê bổ nhiệm làm quan ở Hải Dương, chức Hiến sát xứ, tước Phù Nham bá (hiện còn lăng mộ tại Nam Trì). Sau, hậu duệ của Tiến sĩ Đinh Tú (cháu gọi bằng cụ) là Quận công Đinh Văn Tả, một danh tướng số một thời Lê – Trịnh. Quận công Đinh Văn Tả sinh sống ở làng Hàm Giang (Hàn Giang) huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương (nay thuộc phường Quang Trung, TP Hải Dương). Con cháu, chút chít của Quận công Đinh Văn Tả đều là tướng giỏi hàng đầu triều đình và được ban truyền nhau tước Quận công 18 đời đến khi nhà Lê chấm dứt mới thôi.
Ông còn cắm đất, chọn ngày xây đình chùa, đặt mồ mả để cho hai làng Thổ Hoàng (nay thuộc thị trấn Ân Thi) và Hới (tức làng Hải Triều, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên) phát về đường khoa cử, giàu có nên lưu truyền trong dân gian câu ngạn ngữ nhất Thi nhì Hới.
Làng Thổ Hoàng – quê hương của Tể tướng Nguyễn Trung Ngạn thời Trần, là làng nổi tiếng về khoa cử tại vùng này. Thời phong kiến có hàng chục người đỗ đạt Thám hoa, Tiến sĩ. Làng Thổ Hoàng còn là quê gốc của Thái phó Hồng Quốc Công Hoàng Nghĩa Kiều, một danh tướng Thời Hậu Lê – Tổ tiên của bà Hoàng Thị Loan (thân mẫu Hồ Chủ tịch). Làng Thổ Hoàng nỗi tiếng nhất là dòng họ Lê Quý (em trai nhà Sử học Hình bộ Thượng thư Tiến sĩ Lê Quý Đôn thời Hậu Lê).
Làng Hới là một làng to có truyền thống buôn bán bên bờ sông Luộc, cạnh bến Triều Dương (cầu sang Thái Bình ngày nay). Con gái làng này nổi tiếng là đẹp như câu ngạn ngữ trai Xuôi gái Hới.
Một câu truyện xảy ra cuối thế kỷ 20 liên quan đến Tả Ao. Ấy là có một đoàn võ công 14 người phía Nam ra Bắc biểu diễn. Họ thường nằm ngửa và để một tảng đá to trên bụng rồi cho một người khác dùng búa tạ đập vỡ tảng đá mà người vẫn chẳng hề hấn gì. Một hôm họ biểu diễn tại Nghi Xuân. Chẳng hiều Trời xui đất khiến thế nào mà họ lại lấy tấm bia đá tại mộ phần của Ông ra biểu diễn. Tấm bia bị đập vỡ và đoàn người trở về Nam . Đến đèo Ngang xe ô tô 16 chỗ chở đoàn võ công bị tai nạn lao xuống vực…
Khi ông mất, nhớ công ơn, dân làng Nam Trì tôn Ông làm vị Thành Hoàng làng, thờ trong đền Nam Trì. Đền Nam Trì, nơi thờ tam vị Thượng đẳng phúc Thần là 3 vị tướng, anh em kết nghĩa đào nguyên: Tể tướng Lữ Gia (Bảo Công), tướng Nguyễn Danh Lang (Lang Công), Cao Biền (Cao Vương) và gắn với Lễ hội Nam Trì (hay Lễ hội: Bảo, Lang, Biền)… Ông cũng nói rằng do Ông thương, Ông quí dân Nam Trì mà sau khi hóa ông quay về làm Thành Hoàng làng. Tuy sau này làng Nam Trì trở nên giàu, có nhiều địa chủ nhưng do mâu thuẫn giữa các dòng họ nên việc thờ tự Ông không phải lúc nào cũng đến nơi đến chốn. Vì vậy, việc làm thủ tục xin sắc phong cũng không được thống nhất. Việc thờ phụng ông chủ yếu theo tâm thức dân gian. Trong danh sách 7 vị thần thờ ở đền Nam Trì (3 vị trên và 1 vị phu nhân Lữ Gia và 2 vị phu nhân Cao Biền) lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì vị thứ 7 là Nguyễn Lang. Nhưng thực tế ở Nam Trì thì chỉ biết vị thứ 7 là Tả Ao chứ không biết Nguyễn Lang là ai.